Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh tổ chức Hội nghị quán triệt nghị quyết Trung ương 5 (Khóa XII) và Quy định số 86-QĐ/TW của Bộ Chính trị
Ngày 28/7/2017, Ban Chấp hành Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh Hòa Bình đã tổ chức hội nghị nghiên cứu, học tập và quán triệt các nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII). Dự và chủ trì họi nghị có đồng chí Đoàn Văn Thu – Tỉnh ủy viên, Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh, dự hội nghị còn có các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Khối, Bí thư, Phó Bí thư các Chi, Đảng bộ trực thuộc; Chủ nhiệm, Phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở, các đồng chí cấp ủy viên phụ trách công tác kiểm tra, giám sát các chi bộ cơ sở.
Sau phần khai mạc, đồng chí Đoàn Văn Thu – TUV, Bí thư Đảng ủy Khối đã trực tiếp truyền đạt những nội dung cơ bản của Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Ban Chấp hành Trung ương “Về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Nghị quyết đã chỉ rõ tình hình và nguyên nhân cần thiết BCHTW phải ban hành Nghị quyết, đó là: Qua hơn 30 năm đổi mới, Đảng ta luôn quan tâm tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, rút ra các bài học kinh nghiệm, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển, góp phần quan trọng đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo đảm an sinh xã hội, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân, bảo vệ môi trường sinh thái, củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả đối ngoại, hội nhập quốc tế. Nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng đầy đủ hơn; kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, có nhiều đặc điểm của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập. Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách ngày càng hoàn thiện và phù hợp hơn với luật pháp quốc tế, đồng thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn và thực hiện cam kết hội nhập quốc tế. Các yếu tố thị trường và các loại thị trường được hình thành đồng bộ hơn, gắn kết với thị trường khu vực và thế giới. Hầu hết các loại giá hàng hóa, dịch vụ được xác lập theo cơ chế thị trường. Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, từng bước thích ứng với nguyên tắc và chuẩn mực của thị trường toàn cầu. Phương thức lãnh đạo của Đảng, hoạt động của Nhà nước từng bước được đổi mới phù hợp hơn với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta thực hiện còn chậm. Một số quy định pháp luật, cơ chế, chính sách còn chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu ổn định, nhất quán. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới về kinh tế. Cơ chế kiểm soát quyền lực, phân công, phân cấp còn nhiều bất cập. Quản lý nhà nước chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
Những hạn chế, yếu kém nêu trên có nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng chủ yếu là do nguyên nhân chủ quan, đặc biệt là do: Nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa đủ rõ. Tư duy bao cấp còn ảnh hưởng nặng nề. Năng lực xây dựng và thực thi thể chế còn nhiều bất cập, chưa theo kịp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tệ quan liêu, tham nhũng ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên làm giảm hiệu lực, hiệu quả trong thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Từ những tình hình và nguyên nhân nêu trên, Nghị quyết đã đưa ra mục tiêu tổng quát: Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo tiền đề vững chắc cho việc xây dựng thành công và vận hành đồng bộ, thông suốt nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; sử dụng có hiệu quả nhất mọi nguồn lực để thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển nhanh và bền vững vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Mục tiêu cụ thể đến năm 2020: Phấn đấu hoàn thiện một bước đồng bộ hơn hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo các chuẩn mực phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế. Cơ bản bảo đảm tính đồng bộ giữa thể chế kinh tế và thể chế chính trị, giữa Nhà nước và thị trường; sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển con người, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, phát triển xã hội bền vững. Chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế gắn với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ. Mục tiêu đến năm 2030: Hoàn thiện đồng bộ và vận hành có hiệu quả thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Nghị quyết cũng đưa ra 7 nhiệm vụ và giải pháp: (1) Thống nhất nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta; (2) Tiếp tục hoàn thiện thể chế về sở hữu, phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp; (3) Hoàn thiện thể chế phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường; (4) Hoàn thiện thể chế gắn kết tăng trưởng kinh tế với bảo đảm phát triển bền vững, tiến bộ và công bằng xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; (5) Hoàn thiện thể chế đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế; (6) Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, vai trò xây dựng và thực hiện thể chế kinh tế của Nhà nước; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; (7) Một số nhiệm vụ cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện.
* Về Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Ban Chấp hành Trung ương “Về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước” do đồng chí Phạm Xuân triển – Phó Bí thư thường trực Đảng ủy Khối trình bày trước hội nghị cũng đặt ra mục tiêu tổng quát là: Cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước trên nền tảng công nghệ hiện đại, năng lực đổi mới sáng tạo, quản trị theo chuẩn mực quốc tế, nhằm huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, bảo toàn, phát triển vốn nhà nước tại doanh nghiệp để doanh nghiệp nhà nước giữ vững vị trí then chốt và là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Mục tiêu đến năm 2020: Cơ cấu lại, đổi mới doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2017 – 2020 trên cơ sở các tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước thuộc các ngành, lĩnh vực. Phấn đấu hoàn thành thoái vốn tại các doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ, tham gia góp vốn. Tập trung xử lý dứt điểm các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, các dự án, công trình đầu tư của doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả, thua lỗ kéo dài. Hoàn thiện mô hình quản lý, giám sát doanh nghiệp nhà nước và vốn, tài sản của Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp. Chậm nhất đến năm 2018, thành lập một cơ quan chuyên trách làm đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước và cổ phần, vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp. Mục tiêu đến năm 2030: Hầu hết các doanh nghiệp nhà nước có cơ cấu sở hữu hỗn hợp, chủ yếu là doanh nghiệp cổ phần; trình độ công nghệ, kỹ thuật sản xuất hiện đại tương đương với các nước trong khu vực; đáp ứng đầy đủ chuẩn mực quốc tế về quản trị doanh nghiệp; hình thành đội ngũ quản lý chuyên nghiệp, có trình độ cao, phẩm chất đạo đức tốt…
Nghị quyết đưa ra 05 nhiệm vụ và giải pháp thực hiện, đó là: (1) Đẩy mạnh cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước; (2) Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách để doanh nghiệp nhà nước thật sự vận hành theo cơ chế thị trường; (3) Đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống quản trị và nâng cao năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước; (4) Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước; (5) Đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả lãnh đạo của tổ chức đảng; phát huy vai trò của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội, xã hội – nghề nghiệp tại doanh nghiệp nhà nước.
* Nội dung Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Ban Chấp hành Trung ương “Về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” được đồng chí Phạm Xuân triển – Phó Bí thư thường trực Đảng ủy Khối trình bày cũng đánh giá: Đảng ta luôn quan tâm phát triển và coi trọng các thành phần kinh tế, trong đó có kinh tế tư nhân, bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Để phát triển kinh tế tư nhân, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã ban hành Nghị quyết số 14-NQ/TW ngày 18-3-2002 “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân” (sau đây viết tắt là Nghị quyết số 14-NQ/TW). Qua 15 năm thực hiện, Nghị quyết số 14-NQ/TW đã góp phần quan trọng thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển nhanh và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế, đồng thời góp phần hình thành, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Để phát huy hơn nữa vai trò của kinh tế tư nhân, trên cơ sở tổng kết Nghị quyết số 14-NQ/TW, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 3-6-2017 về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Về tình hình và nguyên nhân Nghị quyết chỉ rõ: Từ chỗ coi nhẹ đã thừa nhận kinh tế tư nhân “là một trong những động lực” và đến nay “là một động lực quan trọng” để phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Vai trò, vị trí của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ngày càng được nhận thức rõ hơn và đánh giá đúng hơn. Kinh tế tư nhân ngày càng phát triển, đóng góp lớn hơn trong huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế, cơ cấu lại nền kinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội, giải quyết các vấn đề xã hội. Tỉ trọng trong GDP của khu vực kinh tế tư nhân, bao gồm cả kinh tế cá thể duy trì ổn định khoảng 39 – 40%, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của kinh tế tư nhân là 10,2%/năm; thu hút khoảng 85% lực lượng lao động của nền kinh tế, năm 2015, doanh nghiệp tư nhân thu hút 7.476 nghìn lao động, tăng hơn 2 lần so với năm 2002. Vai trò lãnh đạo của Đảng, hoạt động giám sát phản biện, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người lao động và người sử dụng lao động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội các cấp đối với khu vực kinh tế tư nhân được nâng lên. Số lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên trong các doanh nghiệp tăng lên qua từng năm. Tính đến ngày 30/6/2015, có 10.188 tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp ngoài khu vực Nhà nước (chủ yếu doanh nghiệp tư nhân), chiếm 1,74% tổng số doanh nghiệp, với trên 134 nghìn đảng viên, trong đó khoảng 2.300 đảng viên là chủ doanh nghiệp của tư nhân (trong thời gian thí điểm, từ tháng 1/2013 – 3/2016 đã kết nạp được 415 chủ doanh nghiệp tư nhân vào Đảng).
Tuy nhiên, kinh tế tư nhân cũng đã bộc lộ một số những hạn chế, yếu kém chủ yếu sau: Tốc độ tăng trưởng của kinh tế tư nhân có xu hướng giảm trong những năm gần đây. Xuất phát điểm phát triển và năng lực nội tại của kinh tế tư nhân nhìn chung còn thấp; chủ yếu vẫn là kinh tế hộ, cá thể. Phần lớn doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ, trình độ công nghệ thấp và chậm đổi mới; trình độ quản trị, năng lực tài chính, năng suất lao động, hiệu quả kinh doanh, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh còn yếu kém; chủ yếu tham gia ở phân khúc thị trường có giá trị gia tăng thấp. Tình trạng vi phạm pháp luật, gian lận thượng mại, trốn thuế, nợ thuế, cạnh tranh không lành mạnh, gây ô nhiễm môi trường, không bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm, không quan tâm bảo đảm lợi ích của người lao động… diễn biến phức tạp, có nơi, có lúc rất nghiêm trọng… Những hạn chế, yếu kém nêu trên có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ yếu là: Chưa có sự thống nhất cao về lý luận và nhận thức đối với phát triển kinh tế tư nhân; thể chế về phát triển doanh nghiệp, doanh nhân còn nhiều bất cập. Chưa tạo được bước đột phá trong đổi mới, hoàn thiện thể chế kinh tế tư nhân và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh. Hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước còn nhiều hạn chế. Việc thực hiện nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế tư nhân đạt hiệu quả chưa cao và còn chưa nghiêm túc. Xuất phát điểm phát triển và năng lực nội tại của kinh tế tư nhân thấp.
Từ những vấn đề nêu trên, Nghị quyết đặt ra mục tiêu tổng quát: Phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh, hiệu quả, bền vững, thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần phát triển kinh tế – xã hội nhanh, bền vững, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Mục tiêu cụ thể: Chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả kinh doanh trong khu vực kinh tế tư nhân. Phấn đấu đến năm 2020 có ít nhất 1 triệu doanh nghiệp; đến năm 2025 có hơn 1,5 triệu doanh nghiệp và đến năm 2030, có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp. Tốc độ tăng trưởng của kinh tế tư nhân cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế. Phấn đấu tăng tỉ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP để đến năm 2020 đạt khoảng 50%, năm 2025 khoảng 55%, đến năm 2030 khoảng 60 – 65%. Bình quân giai đoạn 2016 – 2025, năng suất lao động tăng khoảng 4 – 5%/năm. Thu hẹp khoảng cách về trình độ công nghệ, chất lượng nhân lực và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân so với nhóm dẫn đầu ASEAN-4; nhiều doanh nghiệp tư nhân tham gia mạng sản xuất, chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
Để đạt được mục tiêu đề ra, Nghị quyết đưa ra những nhiệm vụ và giải pháp sau: (1) Thống nhất nhận thức, tư tưởng, hành động trong triển khai các chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế tư nhân; (2) Tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển kinh tế tư nhân; (3) Hỗ trợ kinh tế tư nhân đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động; (4) Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; (5) Đổi mới nội dung, phương thức và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, xã hội – nghề nghiệp đối với kinh tế tư nhân.
Sau nội dung quán triệt 03 nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Hội nghị tiếp tục nghiên cứu, học tập Quy định số 86-QĐ/TW ngày 01/6/2017 của Bộ Chính trị ban hành Quy định giám sát trong Đảng và Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 28/12/2016 của Tỉnh ủy Hòa Bình, Đề án kèm theo Quyết định số 387-QĐ/TU ngày 28/12/2016 của Tỉnh ủy Hòa Bình “Về nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ tỉnh”.
* Quy định số 86-QĐ/TW ngày 01/6/2017 được Bộ Chính trị ban hành lần này gồm 5 chương 17 điều nhằm thay thế Quyết định số 68-QĐ/TW ngày 21/3/2012 của Bộ chính trị, các nội dung trong Quy định số 86 cơ bản được thừa kế của Quyết định số 68 và có bổ sung sửa đổi một số nội dung sau: Tên gọi văn bản (Quy định giám sát trong Đảng thay Quyết định số 68 ban hành Quy chế giám sát trong Đảng trước đây); Nguyên tắc, chủ thể, đối tượng bổ sung “Việc giám sát phải chủ động, kịp thời, dân chủ, khách quan, đúng nguyên tắc, phương pháp, trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của Đảng“. Chế độ giám sát “Theo dõi, đôn đốc đối tượng giám sát thực hiện thông báo kết quả giám sát“. Phạm vị giám sát của tổ chức đảng bổ sung ban thường vụ đảng ủy cơ sở, giám sát các đối tượng và nội dung thuộc phạm vi lãnh đạo, quản lý của mình; chủ thể giám sát sửa đổi bổ sung Ban thường vụ Đảng uỷ cơ sở; đối tượng giám sát sửa đổi bổ sung chi uỷ, ban thường vụ Đảng uỷ cơ sở; đối tượng giám sát của Uỷ ban kiểm tra các cấp bổ sung Chi uỷ; đối tượng giám sát của các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ các cấp bổ sung Chi ủy, chi bộ, đảng ủy bộ phận.
Về nội dung: Bổ sung thêm “Điều 8” so với Quyết định 68-QĐ/TW: Quy định về lãnh đạo công tác giám sát của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ các cấp. Bổ sung nội dung giám sát của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các cấp, ban thường vụ cấp ủy từ cấp cơ sở trở lên giám sát đối với tổ chức đảng trong việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hành tiết kiệm; phòng, chống tham nhũng, lãng phí; việc quản lý, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; Việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện cải cách hành chính, cải cách tư pháp; Việc lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan bảo vệ pháp luật trong công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và công tác bảo vệ Đảng; Việc tuyển dụng, tiếp nhận, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, luân chuyển, đề bạt, bố trí, sử dụng, khen thưởng, kỷ luật cán bộ; Việc lãnh đạo, chỉ đạo và giải quyết khiếu nại, tố cáo”. Bổ sung nội dung giám sát đối với đảng viên về việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Bổ sung nội dung giám sát của Uỷ ban kiểm tra các cấp đối với tổ chức đảng về việc ban hành các văn bản có dấu hiệu trái với chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đối với cấp uỷ viên và cán bộ diện cấp uỷ cùng cấp quản lý bổ sung nội dung giám sát việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, chế độ công tác. Bổ sung nội dung giám sát của các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ các cấp giám sát đối với tổ chức đảng về việc chấp hành quy định, quy chế, kết luận của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Về phương pháp, hình thức:Bổ sung phương pháp giám sát trực tiếp của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; cấp ủy các cấp, ban thường vụ cấp ủy từ cấp cơ sở trở lên giám sát bằng cách thông qua việc chất vấn tại các kỳ hội nghị của cấp ủy, góp ý với đối tượng giám sát”. Bổ sung phương pháp giám sát gián tiếp thông qua việc xem xét các văn bản, báo cáo; thông báo kết luận về các cuộc kiểm tra, thông báo về kết quả giám sát. Bổ sung giám sát gián tiếp thông qua phản ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân đối với tổ chức đảng, đảng viên. Bổ sung hình thức giám sát thường xuyên của chi bộ chủ yếu thực hiện giám sát thường xuyên đối với đảng viên. Bổ sung hình thức giám sát chuyên đề, khi cần thiết thì thực hiện thẩm tra, xác minh. Bổ sung việc xử lý kết quả giám sát của Uỷ ban kiểm tra các cấp nếu phát hiện đối tượng giám sát có dấu hiệu vi phạm thì quyết định kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm.
Về trách nhiệm của chủ thể, đối tượng: Bổ sung trách nhiệm của chủ thể giám sát, giữ bí mật về nội dung thông tin và chủ động, kịp thời khi thực hiện giám sát. Bổ sung trách nhiệm của đối tượng giám sát trong việc có trách nhiệm mời chủ thể giám sát và cán bộ được phân công giám sát dự các cuộc họp, hội nghị; cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin. Báo cáo chủ thể giám sát việc khắc phục, sửa chữa thiếu sót, khuyết điểm. Bổ sung quyền của đối tượng giám sát, được thảo luận về các nội dung giám sát thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chức trách của mình.
* Về Nghị quyết số 09-NQ/TU và Đề án kèm theo Quyết định số 387-QĐ/TU ngày 28/12/2016 của Tỉnh ủy Hòa Bình: Sơ lược nhiệm kỳ 2010-2015, UBKT các cấp trong tỉnh đã kiẻm tra 2.004 đảng viên và 10.729 tổ chức đảng; qua kiểm tra đã có 386 đảng viên và 16 tổ chức đảng vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật. Đã giám sát chuyên đề với 3.347 đảng viên và 2.625 tổ chức đảng; qua giám sát đã phát hiện và chuyển sang kiểm tra dấu hiệu vi phạm đối với 59 đảng viên và 05 tổ chức đảng. Giải quyết tố cáo đối với 148 đảng viên và 7 tổ chức đảng; thi hành kỷ luật 729 đảng viên và 14 tổ chức đảng.
Nghị quyết đặt ra mục tiêu: 100% cấp ủy, tổ chức đảng các cấp ban hành kế hoạch và nghiêm túc tổ chức thực hiên việc học tập, tuyên truyền,phổ biến, quán triệt sâu rộng và ytriển khai thực hiện đày đủ, ịp thời các nghị quyết, chỉ thị, quy định, hướng dẫn của cấp trên cho toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân; 100% Ủy ban kiểm tra các cấp ban hành, thực hiện tốt chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát; phấn đấu mỗi khóa, số tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên được kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm từ 10% trở lên so với số tổ chức đảng cấp dưới và số đảng viên của Đảng bộ tỉnh…
Về một số nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu của Nghị quyết cũng như Đề án 387 nêu rõ: Tiếp tục nâng cao nhận thức cho cấp ủy các cấ, tổ chức đảng, cán bộ, đảng vien, trước hết là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng về công tác kiểm tra, giám át, kỷ luật đảng để lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Cú trọng kiểm tra, giám sát người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, MTTQ, đoàn thể chính trị – xã hội ở các cấp về việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; về giữ gìn phẩm chất đạo đức,lối sống, không để người thân trong gia đình lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi; việc nếu gương và trách nhiệm nêu gương vcủa cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, các ngành và thủ trưởng các cơ quan, đơn vị…
Kết luận và bế mạc tại hội nghị, lãnh đạo Đảng ủy Khối yêu cầu các cấp ủy chi, đảng bộ trực thuộc xây dựng kế hoạch, tổ chức triển khai các nghị quyết, quyết định, quy định nêu trên đến toàn thể cán bộ, đảng viên; mỗi cán bộ, đảng viên sau khi nghiên cứu, học tập đều phải viết bản thu hoạch theo quy định và lưu hồ sơ làm cơ sở đánh giá đối với đảng viên hàng năm.
Tg: Văn Ba